Jennifer Nguyễn No Comments

Liệu FED có tăng lãi suất sớm hay không?

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ đã tăng hơn dự kiến, khiến các nhà đầu tư chú ý đến các dấu hiệu của áp lực lạm phát nhiều hơn có thể khiến Fed chuyển hướng sang tăng lãi suất. Một số nhà đầu tư tin rằng dữ liệu CPI hôm thứ Tư không đủ để khiến Fed thay đổi lộ trình. Nhưng nó vẫn làm rung chuyển thị trường, khiến người dân ngày càng lo lắng rằng lạm phát sẽ tiếp tục tăng cao.

Peter Tuz, Chủ tịch của Chase Investment Counsel, cho biết: “Trọng tâm của cuộc tranh luận là liệu sự gia tăng lạm phát này là tạm thời hay sẽ tiếp tục. Điều này sẽ được chứng minh theo thời gian. Tôi nghĩ xu hướng này sẽ tiếp tục cho đến khi chi phí lao động và giá hàng hóa đã được nới lỏng. Điều này rõ ràng gây ra ý tưởng rằng Fed có thể phải thay đổi chính sách nới lỏng của mình sớm hơn dự kiến ​​”.

Gregory Daco, nhà phân tích chính về Mỹ tại Oxford Economics, nhận định về nền kinh tế Mỹ:” Tốt hơn dự kiến. Nó phải nóng, nhưng Không quá nóng. Fed sẽ không điều chỉnh chính sách của mình vì một báo cáo nhất định, vì vậy tôi không kỳ vọng đây là yếu tố sẽ thay đổi hiện trạng. ”

Các nhà quan sát lạm phát muốn biết liệu động lực phục hồi kinh tế từ dịch bệnh đang bắt đầu quá mức Tăng cường. Người Mỹ đang tiêm vắc xin, và nhiều bang đang dỡ bỏ các hạn chế đối với các hoạt động thương mại. Kiểm tra kích cầu tháng 3 đã được gửi đến các gia đình đủ điều kiện, giúp thúc đẩy nhu cầu. Nhưng các dấu hiệu không rõ ràng lắm. Báo cáo việc làm phi nông nghiệp hôm thứ Sáu cho thấy tăng trưởng việc làm ở Hoa Kỳ bất ngờ chậm lại trong tháng Tư, về cơ bản đây là tín hiệu của hoạt động kinh tế đang hạ nhiệt.

Quincy Krosby, trưởng bộ phận chiến lược thị trường tại Prudential Financial ở Newark, New Jersey, nói rằng câu hỏi mà các nhà đầu tư phải đối mặt là “lãi suất sẽ ở mức đáy trong bao lâu?”. “Một dữ liệu duy nhất sẽ không thay đổi quan điểm của Fed”. cô ấy đã chỉ ra. Để Fed thay đổi lập trường của mình, cần có thêm dữ liệu, bao gồm “dữ liệu cho thấy mức độ dính của lạm phát và chi phí gia tăng. Chúng tôi vẫn chưa thực hiện và chúng tôi vẫn đang trong giai đoạn phục hồi”.

Wilson An No Comments

Lãi suất, tỷ giá USD/VND giảm mạnh trên liên ngân hàng

Cả lãi suất VND và tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng cùng thể hiện đà giảm mạnh.

Nối tiếp xu hướng đang thể hiện, phiên hôm qua (19/5), thị trường liên ngân hàng chứng kiến cú rơi mạnh tới 65 VND của tỷ giá USD/VND, chốt phiên chỉ còn 23.275 VND.

Mức giảm mạnh trên cũng kéo theo phản ứng điều chỉnh giá USD trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại, khi mức bán ra đã rời xa mốc 23.400 VND.

Như BizLIVE cập nhật ở những bản tin vừa qua, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng cũng tiếp tục giảm mạnh, cùng lượng tiền lớn dần trở lại thị trường.

Cụ thể, hôm qua (19/5), lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm mạnh 0,10 – 0,21 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên đầu tuần.

Theo đó, lãi suất VND qua đêm chính thức tuột mốc 1%/năm, chỉ còn 0,93%/năm; 1 tuần còn 1,09%; 2 tuần ở 1,31% và 1 tháng 1,88%/năm.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD cũng giảm 0,01 – 0,02 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn; giao dịch qua đêm còn 0,21%/năm; 1 tuần 0,33%; 2 tuần 0,46%, 1 tháng 0,74%.

Ở nghiệp vụ thị trường mở, hôm qua Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất ở mức 3%/năm. Không có khối lượng trúng thầu trong phiên hôm qua, có 3 tỷ đồng lưu hành trên kênh này.

Lượng tiền lớn tiếp tục trở lại thị trường khi hôm qua có thêm 4.999 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 4.999 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành giảm xuống mức gần 51.000 tỷ đồng.

Theo Lam Giang

Bizlive

Wilson An No Comments

Thế lưỡng nan của các ngân hàng

Lợi nhuận của ngân hàng sẽ suy giảm mạnh vì tín dụng tăng trưởng âm và phải tăng trích lập dự phòng.

Tính đến ngày 20.3, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt vỏn vẹn 0,68% so với cuối năm 2019. Tạm tính, trong khoảng 80 ngày đầu năm, toàn hệ thống mới giải ngân thêm khoảng 55.700 tỉ đồng tín dụng ra nền kinh tế, tương đương chưa tới 700 tỉ đồng/ngày. Đây là mức tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong nửa thập niên qua, mà nguyên nhân trực tiếp là do doanh nghiệp gặp khó khăn bởi dịch COVID-19.

Không chỉ tín dụng tăng trưởng thấp, nợ quá hạn tăng trong mùa dịch sẽ gây ảnh hưởng xấu tới kết quả kinh doanh và khả năng tăng trưởng vốn của nhiều ngân hàng. Nhận định này được tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đưa ra trong bối cảnh nhiều ngân hàng tại Việt Nam đang tham gia vào quá trình cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong mùa dịch.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 8.5, hệ thống ngân hàng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho trên 215.000 khách hàng với dư nợ khoảng 130.000 tỉ đồng. Đồng thời, các ngân hàng đã miễn, giảm và hạ lãi suất cho 260.000 khách hàng với dư nợ 1,08 triệu tỉ đồng, cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ ngày 23.1 đến nay đạt khoảng 630.000 tỉ đồng cho khoảng 182.000 khách hàng. 

Theo Fitch Ratings, các ngân hàng Việt Nam được hãng này đánh giá tín nhiệm đã có mức tăng trưởng các khoản nợ quá hạn trong quý I ở mức 45% so với cuối năm 2019, trong bối cảnh nền kinh tế đang bị đình trệ, chỉ tăng trưởng ở mức 3,8% trong quý I (mức thấp nhất kể từ năm 2013). Các khoản nợ quá hạn này được dự báo sẽ tăng mạnh hơn nữa khi triển vọng kinh tế vẫn ảm đạm do nhu cầu toàn cầu yếu.

Nguy cơ nợ xấu trở lại chỉ trong vài tháng đầu năm 2020 trong khi trước đó, đà xử lý nợ xấu đang tiến triển tốt cho đến cuối năm 2019. Theo Ngân hàng Nhà nước đánh giá, khoảng 2 triệu tỉ đồng dư nợ tín dụng (chiếm khoảng 23% dư nợ toàn hệ thống) bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và dự báo rủi ro tiềm ẩn nợ xấu tăng cao.

Fitch cho rằng nếu các ngân hàng tiếp tục áp dụng các biện pháp dự phòng lên các khoản vay mới có nguy cơ trở thành nợ xấu, các ngân hàng này có thể sẽ thiếu hụt vốn lên tới 2,5 tỉ USD (tương đương 27% vốn chủ sở hữu cuối năm 2019), nhằm đáp ứng yêu cầu tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu của Basel II là 8%. Trong đó, các ngân hàng quốc doanh sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt vốn lớn nhất.

Về vấn đề này, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính, Tiền tệ Quốc gia, cho rằng tuy ngân sách đang khó khăn, song vẫn cần thiết tăng vốn cho các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước. Nếu không thể tăng vốn, chắc chắn khả năng cung ứng vốn, giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế của các ngân hàng sẽ kém đi.

Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dự báo thu nhập lãi của các ngân hàng sẽ chậm lại rõ hơn từ quý II. So với các ngân hàng tư nhân, thu nhập lãi của các ngân hàng quốc doanh trong năm nay nhiều khả năng sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn do các nhóm này được kỳ vọng sẽ đi đầu trong việc áp dụng các biện pháp miễn giảm lãi, cơ cấu nợ cho khách hàng. Dự kiến, tác động tiêu cực lên NIM (và sau đó là thu nhập lãi) sẽ trở nên mạnh hơn so với quý I.

Biên lợi nhuận giảm sẽ xảy ra nếu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ và yêu cầu các ngân hàng thương mại tiếp tục hạ lãi suất cho vay để kích thích tăng trưởng kinh tế.

Trong tình hình dịch COVID-19 gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, Phó Thống đốc Đào Minh Tú yêu cầu 4 ngân hàng có vốn nhà nước gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank phải giảm tối thiểu 40% lợi nhuận để đóng góp vào việc hạ lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp, cá nhân.

Ví dụ, Vietcombank có lợi nhuận hằng năm rất lớn, năm 2019 lãi 22.000 tỉ đồng, thì năm nay phải giảm 30-40% lợi nhuận này, đóng góp khoảng 8.000 tỉ đồng để giảm lãi suất. Ông Nghiêm Xuân Thành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank, cho biết, Ngân hàng tự động giảm lãi cho khách hàng với dư nợ được giảm là 600.000 tỉ đồng. Với việc điều chỉnh trên, Ngân hàng chấp nhận giảm 2.240 tỉ đồng lợi nhuận trong quý I. Năm 2020, VietinBank cũng dự kiến cắt giảm lợi nhuận từ 3.000-4.000 tỉ đồng để giảm lãi suất và giảm phí…

Theo Tiến sĩ Lực và nhóm tác giả Viện đào tạo và Nghiên cứu BIDV, thu nhập hoạt động của các tổ chức tín dụng năm nay sẽ giảm ít nhất hơn 30.000 tỉ đồng, tương đương giảm 20-25% kế hoạch lợi nhuận ban đầu.

Thực tế, theo báo cáo tài chính của 26 ngân hàng đã công bố, có đến 11 ngân hàng  sụt giảm lợi nhuận trong quý I/2020 so với cùng kỳ, trong đó có một số ngân hàng lớn như Vietcombank, VietinBank, MBBank, Sacombank… Khó khăn cũng hiện diện ở nhóm ngân hàng khác. Chẳng hạn, Eximbank đã phải giảm các chỉ tiêu kinh doanh năm 2020 với lợi nhuận trước thuế giảm 40%, còn 1.318 tỉ đồng. Ngân hàng Nam Á cũng đặt chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2020 thấp hơn 14% so với năm trước, ở mức 800 tỉ đồng…

Trước đó, Công ty Chứng khoán SSI đã điều chỉnh dự báo lợi nhuận trước thuế đối với 10 ngân hàng quy mô lớn được nghiên cứu với mức giảm 11,1% và giảm 16,4% so với dự báo trước đây ứng với 2 kịch bản: dịch bệnh sẽ được kiểm soát vào cuối quý II và dịch bệnh sẽ không được kiểm soát đến cuối năm 2020.

Theo NCĐT

IB Viet Nam No Comments

Ảnh hưởng của Fixed Income Securities đến những chuyển động tiền tệ.

Ở bài trước, chúng ta đã nói về vai trò của sự chênh lệch tỷ suất lợi nhuận như một chỉ báo cho sự biến động giá của tiền tệ.

Khi chênh lệch trái phiếu hoặc chênh lệch lãi suất giữa hai nền kinh tế tăng lên, đồng tiền có lãi suất cao hơn thường sẽ tăng giá so với đồng tiền còn lại.

Thuật ngữ FIXED INCOME SECURITIES có nghĩa là CHỨNG KHOÁN CHO THU NHẬP CỐ ĐỊNH (bao gồm cả trái phiếu) là các khoản đầu tư được chi trả những khoản thanh toán cố định theo những khoảng thời gian định trước.

Những nền kinh tế mang lại lợi nhuận Fixed income securities cao sẽ thu hút được nhiều khoản đầu tư hơn.

Điều này làm tăng sức hút cho đồng nội tệ của quốc gia so với các nền kinh tế mang có Fixed Income Securities thấp.

Hãy thử so sánh trái phiếu Anh và chứng khoán Châu Âu.

Nếu chứng khoán Châu Âu đưa ra tỉ lệ lợi nhuận thấp so với trái phiếu Anh, đương nhiên các nhà đầu tư sẽ chuyển túi tiền của họ sang nơi có sức hút hơn.

Do đó, đồng EUR có thể sẽ suy yếu hơn so với các đồng tiền khác, đặc biệt là đồng bảng Anh.

Nguyên lý này áp dụng cho mọi thị trường “Fixed income” và bất kể đồng tiền nào.

Bạn có thể so sánh lợi tức của Fixed Income Securities của Brazil so với Nga và sử dụng nguyên lý trên để dự đoán kịch bản dành cho đồng Real (Brazil) và đồng Rúp (Nga).

Hoặc bạn cũng có thể so sánh Fixed Income Securities của Ailen so với Hàn Quốc.

Bạn sẽ thấy những kết quả rõ rệt.

Nếu bạn muốn tìm kiếm dữ liệu về trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp, bạn có thể tìm chúng trên hai nguồn thông tin là Bloomberg và Trading Economics.

Hoặc bạn có thể tìm trên website chính phủ của một quốc gia mà bạn quan tâm để tìm hiểu về lợi tức trái phiếu hiện tại của quốc gia đó.

Trên thực tế, hầu như quốc gia nào cũng cung cấp trái phiếu nhưng bạn chỉ nên đầu tư ở những quốc gia sở hữu đồng tiền chính.

Dưới đây là một số trái phiếu phổ biến trên khắp thế giới:

NỀN KINH TẾCUNG CẤP TRÁI PHIẾU
Hoa KỳTrái phiếu kho bạc Mỹ, trái phiếu Yankee
Vương quốc AnhGilts, trái phiếu Bulldog
Nhật BảnTrái phiếu Nhật Bản, trái phiếu Samurai
EurozoneTrái phiếu Eurozone, Euribors
nước ĐứcBến
Thụy sĩTrái phiếu Thụy Sĩ
CanadaTrái phiếu Canada
Châu ÚcTrái phiếu Úc, trái phiếu kangaroo, trái phiếu Matilda
New ZealandTrái phiếu New Zealand, trái phiếu Kiwi
Tây Ban NhaTrái phiếu Matador

Một lưu ý rằng trái phiếu của mỗi quốc gia sẽ có những điều khoản khác nhau, chẳng hạn như thời gian đáo hạn.

IB Viet Nam No Comments

Xác định tiêu chí và rủi ro cho Carry Trade

1. Tiêu chí để tìm kiếm một giao dịch chênh lệch lãi suất

Rất đơn giản, để tìm ra một cặp tiền tệ phù hợp cho giao dịch chênh lệch lãi suất dựa vào 2 điều kiện:

  1. Tìm 2 loại tiền tệ có chênh lệch lãi suất cao.
  2. Tìm một cặp tiền ổn định và có xu hướng tăng lên.

Điều thứ nhất thì đã quá rõ ràng rồi, vì chúng ta giao dịch chênh lệch lãi suất, nên yếu tố chênh lệch lãi suất cao giữa hai đồng tiền là yêu cầu bắt buộc.

Còn điều kiện thứ hai sẽ giúp cho chúng ta có thể thu được lợi nhuận lớn sau khi chốt lệnh ngoài việc chỉ kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất đồng tiền.

Chúng ta hãy xem một ví dụ thực tế về giao dịch chênh lệch lãi suất:

Carry Trade: Biểu đồ hàng tuần của AUD / JPY

Trên hình là biểu đồ tuần của cặp AUD/JPY. Đây là thời điểm Nhật Bản đang duy trì chính sách “lãi suất 0”, hay còn gọi là Zero Interest Rate Policy (ZIRP).

Kể từ năm 2016, Nhật Bản thậm chí đã tiến hành chính sách lãi suất âm, tức là các ngân hàng sẽ thu lãi suất 0.1% đối với các khoản tiền gửi của các cá nhân hay tổ chức, với mục đích kích thích đầu tư và sử dụng tiền hiệu quả hơn.

Với việc Ngân hàng Dự trữ Úc đưa ra mức lãi suất cao 4.5%, rất nhiều nhà đầu tư đã đổ xô vào giao dịch cặp tiền này, đó cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra xu hướng tăng nhỏ cho cặp AUD/JPY.

Từ đầu năm 2009 đến đầu năm 2010, cặp AUD/JPY đã tăng từ giá 55.50 lên đến 88.00, mức tăng 3250 pip.

Nếu bạn kết hợp sự chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền này với sự tăng giá của nó trong dài hạn, rõ ràng cặp AUD/JPY là một khoản đầu tư quá đẹp cho các nhà đầu tư và các trader.

Tất nhiên không có gì là chắc chắn. Nền kinh tế và chính trị thế giới luôn thay đổi từng ngày.

Lãi suất của các đồng tiền cũng có thể thay đổi kéo theo việc chênh lệch lãi suất của các đồng tiền thay đổi theo.

Từ đó có thể khiến cho việc giao dịch chênh lệch lãi suất các cặp tiền không còn hiệu quả như trước.

2. Rủi ro của giao dịch chênh lệch lãi suất

Với một nhà giao dịch thông minh, câu hỏi đầu tiên trước khi đưa ra quyết định đầu tư là “rủi ro của tôi là gì?”

Vậy rủi ro của giao dịch chênh lệch lãi suất là gì?

Mỗi nhà giao dịch đều phải tự lên kế hoạch quản lý rủi ro cho mình, nếu xem Carry Trade – Giao dịch chênh lệch lãi suất là một giao dịch thuần túy, vậy bạn phải xem liệu nó có phù hợp với quy tắc quản lý rủi ro của mình hay không.

Trong ví dụ ở bài trước với Nam và số tiền cưới 10 000 USD của mình.

Rủi ro lớn nhất mà Nam có thể phải chịu là tài khoản bị đóng và chỉ còn lại số tiền ký quỹ, Nam sẽ mất 9 000$.

Bạn đã thấy vấn đề rồi chứ?

Carry Trade cũng chỉ là một giao dịch bình thường và nếu bạn không quản lý rủi ro cho nó, bạn vẫn sẽ phải chịu hậu quả là cháy tài khoản.

Vì vậy, hãy đặt Stoploss cho mọi giao dịch, thay vì phải mạo hiểm cho toàn bộ số tiền của mình.

IB Viet Nam No Comments

Khi nào Carry Trade hiệu quả?

Khi nào Carry Trade hiệu quả?

Giao dịch chênh lệch lãi suất hoạt động tốt nhất khi một nhà đầu tư hiểu rõ được rủi ro và cơ hội của mình cho việc mua một đồng tiền có lãi suất cao và bán một đồng tiền lãi suất thấp hơn.

Với một người lạc quan, họ sẽ nghĩ “Vẫn còn một nửa ly nước” trong khi với một người bi quan thì “Ly nước chỉ còn một nửa”.

Tương tự với việc giao dịch chênh lệch lãi suất, bạn phải hiểu và chấp nhận cả rủi ro lẫn cơ hội.

Dù điều kiện kinh tế hiện tại có thể không tốt nhưng nền kinh tế đó phải cho thấy những dấu hiệu tích cực.

Khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng tốt, ngân hàng trung ương sẽ phải điều chỉnh lãi suất để kiểm soát lạm phát.

Khi đó, lãi suất đồng tiền tăng lên dẫn đến việc giao dịch chênh lệch lãi suất của bạn càng thuận lợi.

Khi nào Carry Trades KHÔNG hiệu quả?

Khi nền kinh tế quốc gia có triển vọng không tốt (dấu hiệu đi xuống), không ai dám đầu tư vào đó khiến cho giá trị đồng tiền tệ quốc gia càng đi xuống.

Trong tình hình đó, ngân hàng trung ương có thể sẽ phải hạ lãi suất để kích cầu nền kinh tế tăng trưởng.

Và rõ ràng điều đó không hề có lợi cho việc giao dịch chênh lệch lãi suất.

Tóm lại, giao dịch chênh lệch lãi suất sẽ có hiệu quả nhất khi các nhà đầu tư có “ÁC CẢM RỦI RO” thấp (Thuật ngữ “Risk Aversion”).

Đó là lúc các nhà đầu tư cảm nhận được triển vọng của thị trường.

Ngược lại, nó sẽ thiếu hiệu quả khi ác cảm rủi ro ở mức cao.

Khi ác cảm rủi ro cao, các nhà đầu tư sẽ ít đưa ra quyết định đầu tư mạo hiểm.

Hãy thử suy nghĩ một cách thực tế:

Giả sử với điều kiện kinh tế khó khăn và đất nước đang trải qua thời kỳ suy thoái. Bạn nghĩ người hàng xóm của bạn sẽ làm gì với tiền của họ?

Có thể họ sẽ chọn một khoản đầu tư với lợi nhuận thấp nhưng an toàn.

Đó rõ ràng là một lựa chọn không hề tồi, bởi trong thời điểm kinh tế đi xuống, sẽ không có vấn đề gì với một lợi nhuận thấp cả, miễn là số tiền đầu tư được đảm bảo an toàn.

Khi đó, việc tìm kiếm lợi nhuận không phải là ưu tiên hàng đầu mà là bảo toàn vốn.

Bảo toàn vốn sẽ giúp cho người hàng xóm của bạn có những kế hoạch dự phòng khi mọi thứ trở nên tồi tệ, giả như khi anh ta bị đuổi việc.

Trong đầu tư ngoại hối, có một thuật ngữ dành cho trường hợp của a bạn hàng xóm, đó là mức độ “Sợ rủi ro” hay “Ác cảm rủi ro” cao (Risk Aversion).

Khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn, các nhà đầu tư có xu hướng bỏ tiền của mình vào các đồng tiền trú ẩn an toàn có lãi suất thấp như USD hay đồng Yên Nhật.

IB Viet Nam No Comments

Giao dịch chênh lệch lãi suất – Carry Trade là gì?

Carry Trade là một trong những hình thức kiếm tiền phổ biến nhất của các nhà quản lỹ quỹ. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chi tiết trong bài học này.

1. Carry Trade là gì?

Khi bạn vay mượn hoặc bán một tài sản với lãi suất thấp, sau đó dùng số tiền thu được để mua một tài sản khác với lãi suất cao hơn.

Trong khi bạn chỉ phải trả lãi suất thấp cho tài sản bạn đã vay hoặc bán thì bạn lại thu được lãi cao hơn cho tài sản bạn đã mua.

Từ đó, lợi nhuận bạn thu được chính là nhờ CHÊNH LỆCH LÃI SUẤT.

Ví dụ về giao dịch chênh lệch lãi suất.

Giả sử bạn vay ngân hàng một khoản tiền 10 000 USD với lãi suất 1%/năm.

Sau đó bạn dùng số tiền này để mua một trái phiếu trị giá 10 000 USD và được trả lãi 5%/năm.

Rất dễ thấy, bạn có một lợi nhuận là 4% chỉ từ khoản tiền đi vay nhờ chênh lệch lãi suất.

Có thể bạn đang nghĩ đó không phải là một khoản lợi nhuận hấp dẫn so với việc tìm kiếm lợi nhuận từ thị trường.

Vậy thì bạn đã quên mất một yếu tố tuyệt vời từ thị trường ngoại hối, đó chính là ĐÒN BẨY.

Nếu như bạn sử dụng đòn bẩy 1:20 thì sao? Con số 4% kia đã có thể biến thành 80% rồi.

Nếu bạn vẫn cảm thấy khó hiểu, mời bạn hãy cùng xem tiếp.

Ví dụ về giao dịch chênh lệch lãi suất với đòn bẩy

Giả sử bạn vay 1 000 000 USD với lãi suất 1%.

Ngân hàng yêu cầu một khoản thế chấp 10 000 USD từ bạn và bạn sẽ nhận lại nó khi tất toán khoản vay.

Bạn ôm balo tiền và đi bộ sang bên đường vào một ngân hàng khác và gửi 1 000 000 USD vào tài khoản tiết kiệm với lãi suất được trả là 5%/năm.

Một năm trôi qua, số tiền bạn kiếm được là: 1 000 000 x 0.05 = 50 000 USD.

Bạn rút hết cả gốc và lãi về sau đó trả lại tiền cho ngân hàng mà bạn đã vay.

Tổng số tiền mà bạn phải trả là 1 000 000 USD ban đầu cộng với lãi suất 1% tương ứng với 10 000 USD mà bạn phải chịu.

Như vậy, lợi nhuận ròng mà bạn có được là 40 000 USD.

Chỉ với 10 000 USD ban đầu, bạn đã thu về đến 400%.

Bây giờ bạn đã thấy nó thực sự hấp dẫn chưa?

Tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận về cách thực hiện Carry Trade và khi nào nó có thể (hoặc không thể) sử dụng được.

Đòn bẩy giao dịch

2. Giao dịch chênh lệch lãi suất với một cặp tiền tệ

Trong thị trường ngoại hối, chúng ta giao dịch theo các cặp tiền, ví dụ nếu bạn mua EURUSD thì tức là bạn đang mua đồng EUR và bán đồng USD cùng lúc.

Bạn sẽ trả lãi cho tiền tệ mà bạn bán, cùng với đó bạn thu lãi cho tiền tệ mà bạn mua.

Điều đặc biệt trong thị trường ngoại hối là bạn được trả lãi mỗi ngày trên từng giao dịch từ sự chênh lệch lãi suất giữa hai loại tiền tệ mà bạn đã giao dịch đó.

Đây là chi phí mà sàn môi giới trả cho sự chênh lệch lãi suất khi bạn giữ giao dịch của mình qua đêm với điều kiện đồng tiền bạn mua có lãi suất cao hơn.

Trong điều kiện ngược lại, đồng tiền bạn mua có lãi suất thấp hơn, bạn sẽ phải trả cho khoản chênh lệch đó.

Chúng ta đều biết, ưu điểm của giao dịch ngoại hối chính là đòn bẩy, nhờ đó chúng ta có thể giao dịch với khối lượng lớn hơn rất nhiều so với số tiền chúng ta có.

Hầu hết các sàn môi giới thường yêu cầu chỉ 1% đến 2% cho tiền ký quỹ của mỗi giao dịch.

Ví dụ về giao dịch chênh lệch lãi suất với một cặp tiền tệ

Hãy xem ví dụ sau để thấy sức mạnh của giao dịch chênh lệch lãi suất như thế nào:

Đây là Nam, một chàng trai 9x trẻ vừa mới lập gia đình và đang có 10 000 đô-la tiền mừng cưới.

Nam đang phân vân chưa biết nên đầu tư thế nào để kiếm lời với khoản tiền này.

Nếu gửi ngân hàng với lãi suất 7% thì sau một năm Nam chỉ thu về được 700 đô tiền lãi. Chẳng đáng là bao.

Vì vậy Nam đã không chọn phương án đó mà quyết định sẽ mở một tài khoản giao dịch ngoại hối (tất nhiên là sau một thời gian dài chinh chiến trên tài khoản demo và tích lũy được kha khá kinh nghiệm nhé).

Nam đã tìm thấy một cặp tiền có chênh lệch lãi suất lên đến 5%/năm và thực hiện một giao dịch với khối lượng 100 000 đô-la với cặp tiền đó.

Nam sử dụng đòn bẩy 1:100, do đó a chỉ cần sử dụng 1 000 USD cho tiền ký quỹ.

Kịch bản nào sẽ xảy ra nếu Nam giữ nguyên tài khoản của mình trong một năm?

Có 3 khả năng:

  1. Cặp tiền mà Nam mua rớt giá thảm hại. Tài khoản của Nam bị stop out và tất cả những gì Nam còn lại chỉ là số tiền ký quỹ 1 000 đô.
  2. Cặp tiền giữ nguyên tỷ giá: Trong trường hợp này, Nam không thu được lợi nhuận từ giao dịch, nhưng a đã thu được 5% lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất. Tương đương với 5 000$.
  3. Cặp tiền tăng giá: Đây là kịch bản tuyệt vời nhất cho khoản đầu tư của Nam. Anh không chỉ kiếm được lợi nhuận từ 5% chênh lệch lãi suất mà còn kiếm được lợi nhuận từ giao dịch của mình.

Bạn thấy đấy, với việc lợi dụng đòn bẩy và chênh lệch lãi suất, Nam đã có thể kiếm được 50% lợi nhuận sau một năm.

Tất nhiên việc giao dịch không đơn giản như thế, nhưng điều quan trọng qua bài học này là bạn đã có thể hiểu được Carry Trade là gì và nó vận hành như thế nào rồi.

IB Viet Nam No Comments

Nên giao dịch những tin tức nào?

Trước khi chuẩn bị chiến lược giao dịch cho những tin tức, sự kiện sắp tới. Trước hết chúng ta cần phải xem xét những tin tức – sự kiện nào có giá trị.

Hãy nhớ rằng chúng ta giao dịch tin tức vì khả năng làm thị trường biến động mạnh trong thời gian ngắn của tin tức đó.

Vì vậy sẽ chỉ chọn những tin tức quan trọng thực sự có khả năng dịch chuyển thị trường.

1. Những tin tức nào đáng quan tâm trong thị trường ngoại hối

Trong thị trường ngoại hối, hầu hết tin tức đến từ các quốc gia khác nhau đều tạo ra phản ứng. Tuy nhiên, để thị trường phản ứng mạnh mẽ, tạo ra những biến động lớn nhất là những tin tức đến từ Hoa Kỳ.

Tin liên quan

Rất dễ hiểu, Hoa Kỳ là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới và đồng dollar Mỹ là đơn vị tiền tệ dữ trữ của thế giới.

Chính vì vậy đồng dollar Mỹ tham gia vào khoảng 90% tổng số giao dịch trên thị trường ngoại hối. Điều đó làm cho tin tức từ Hoa Kỳ trở nên vô cùng quan trọng.

Sau đây là những tin tức quan trọng nhất:

Hầu hết các báo cáo tin tức biến động trong thị trường ngoại hối

Ngoài các báo cáo về lạm phát và các cuộc đàm phán của ngân hàng trung ương, bạn cũng nên chú ý đến các tin tức như chiến tranh, thiên tai, bầu cử hay những bất ổn chính trị.

Mặc dù tác động của chúng không quá lớn nhưng dù sao vẫn đáng để quan tâm.

Ngoài ra bạn hãy để mắt đến những động thái từ thị trường chứng khoán.

Có khi những phản ứng trong thị trường chứng khoán sẽ là tiền thân cho những biến chuyển lớn trong thị trường ngoại hối.

Sau khi đã biết được những sự kiện tin tức nào tạo ra biến động mạnh mẽ nhất cho thị trường, bước tiếp theo chúng ta cần làm là xác định cặp tiền tệ nào có giá trị giao dịch.

2. Nên giao dịch tin tức với những cặp tiền nào?

Tin tức có thể mang đến những biến động lớn cho thị trường ngoại hối, và khi đó cơ hội giao dịch cũng nhiều hơn. Quan trọng là chúng ta cần biết nên giao dịch những cặp tiền nào.

Các cặp tiền có tính thanh khoản cao luôn mang đến sự đảm bảo cho quá trình vào lệnh được suôn sẻ hơn và không có bất kì trục trặc nào xảy ra đối với việc khớp lệnh.

Hãy xem các cặp tiền sau đây:

  1. EUR / USD
  2. GBP / USD
  3. USD / JPY
  4. USD / CHF
  5. USD / CAD
  6. AUD / USD

Bạn có nhận thấy điều gì đặc biệt ở đây không?

Đây là tất cả các cặp tiền chính. Luôn nhớ rằng, chúng là những cặp tiền có tính thanh khoản cao nhất, và thường sẽ có spread nhỏ nhất.

Khi tin tức xuất hiện, các cặp tiền có xu hướng giãn spread, vì vậy sẽ hợp lý hơn nếu như bạn chọn sẵn những cặp tiền có spread thấp nhất từ đầu.

IB Viet Nam No Comments

Fed là gì? Vai trò và nhiệm vụ của Fed như thế nào? Những chính sách của Fed tác động đến nền kinh tế ra sao?

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu Fed là gì? Vai trò và nhiệm vụ của Fed như thế nào? Những chính sách của Fed tác động đến nền kinh tế ra sao?
1. Fed là gì?
1.1. Tổng quan về Fed
Vào năm 1791, Người đại diện của gia tộc Rothschild, ông Alexander Hamilton đã trình lên Quốc hội đề xuất thành lập First Bank of the United States (BUS1) nhằm mục đích giải quyết những vấn đề về tiền tệ. BUS 1 được tổng thống Washington ký thông qua và đi vào hoạt động trong 20 năm (1791 – 1812). Vào năm 1812, khi cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Anh nổ ra, Hoa Kỳ đã gặp rất nhiều khó khăn và các ngân hàng Hoa Kỳ gần như mất khả năng thanh toán do tình trạng nợ và chi phí hoạt động quân sự. Trước tình cảnh đó, Hoa Kỳ một lần nữa thành lập Ngân hàng trung ương – Second Bank of the United States (BUS2) sau khi tổng thống Madison đặt bút ký thông qua với thời gian hiệu lực là 20 năm (1816 – 1836). Sau nhiều cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt là cuộc khủng hoảng của hệ thống ngân hàng năm 1907, Quốc hội Hoa Kỳ đã nhận thấy những yếu kém của hệ thống tài chính và đặt ra mục tiêu cải cách hệ thống ngân hàng và thiết lập một cơ chế giám sát ngân hàng có hiệu quả hơn. Sau nhiều cuộc họp thảo luận vô cùng kỹ lưỡng, vào ngày 23/12/1913, Tổng thống Wilson đã ký quyết định thông qua “Đạo luật Dự trữ liên bang”, chính thức thành lập Cục Dự trữ Liên bang (Federal Reserve System – FED) hay còn gọi là Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ.

1.2. Chức năng của Fed là gì?
Hiện nay, Fed được xem là tổ chức tài chính quyền lực nhất thế giới. Sự xuất hiện của Fed mang đến cho Hoa Kỳ một hệ thống tiền tệ và tài chính an toàn, linh hoạt và ổn định, giúp Hoa Kỳ có những chính sách đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính mà trong quá khứ họ đã từng phải gánh chịu, ví dụ như đợt khủng hoảng nghiêm trọng năm 1907. Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập 3 mục tiêu chính cho chính sách tiền tệ trong Đạo luật dự trữ Liên bang, bao gồm: Tăng tối đa việc làm, giữ giá cả ổn định và điều chỉnh lãi suất. Trong những năm qua, nhiệm vụ của Fed ngày càng được mở rộng hơn. Đến thời điểm năm 2009, Fed đồng thời giám sát và điều tiết ngân hàng, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và cung cấp các dịch vụ tài chính cho Chính phủ Hoa Kỳ, các tổ chức trong và ngoài nước.

1.3. Bản chất của Fed là gì?
Bản chất của Fed là một Ngân hàng trung ương độc lập có toàn quyền đưa ra các chính sách tiền tệ và thi hành các chính sách đó mà không phải chịu bất kỳ sự quản lý của chính phủ Hoa Kỳ. Tính độc lập của Fed đến đâu và được thể hiện như thế nào?

2. Tính độc lập của Fed
Trên thế giới tồn tại ba mô hình Ngân hàng trung ương phổ biến: NHTW độc lập với chính phủ NHTW là một tổ chức thuộc chính phủ NHTW là một cơ quan thuộc bộ tài chính. Tính độc lập của NHTW nhằm giảm sự can thiệp sâu của chính trị đến quá trình quản lý và thực thi các chính sách tiền tệ nhằm đạt hiệu quả tốt nhất. Mức độ độc lập của NHTW được thể hiện thông qua quyền hạn đối với Chính sách tiền tệ, quyền quyết định và thực thi các chính sách tiền tệ đó. Hầu hết các NHTW đều có những quyền hạn đối với Chính sách tiền tệ, quyền giám sát đối với các tổ chức tín dụng, tuy nhiên, mức độ độc lập là không giống nhau. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tính độc lập của các NHTW được chia thành 4 cấp độ:
Cấp độ 1: Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động.
Cấp độ 2: Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động.
Cấp độ 3: Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành.
Cấp độ 4: Độc lập tự chủ hạn chế. Fed là Ngân hàng trung ương có cấp độ độc lập cao nhất – cấp độ 1: Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động.
2.1. Độc lập về chính sách
Fed có thể đưa ra các quyết định chính sách tiền tệ mà không cần phải phê chuẩn bởi Tổng thống hoặc bất cứ ai khác trong các ngành hành pháp hay lập pháp của chính phủ. Fed có toàn quyền quyết định việc sử dụng công cụ như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở để thực hiện mục tiêu hàng đầu của Fed trong chính sách tiền tệ là theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả, tạo công ăn việc làm qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh và bền vững.
2.2. Độc lập về tài chính
Fed không nhận bất kỳ nguồn kinh phí nào do Quốc hội Hoa Kỳ phân bổ. Fed có ngân sách hoạt động độc lập và có doanh thu từ các tài sản nắm giữ. Chính phủ Hoa Kỳ nhận được tất cả các lợi nhuận hàng năm của bộ máy Fed sau khi chia cổ tức theo luật định là 6%. Trên thực tế, Fed là một bộ máy kiếm tiền khủng khiếp và chính phủ Hoa Kỳ được hưởng gần như toàn bộ sự hiệu quả đó. Trong năm 2010, Fed đã lãi đến 82 tỷ $ và chuyển 79 tỷ $ vào kho bạc Hoa Kỳ.
2.3. Độc lập về tổ chức nhân sự
Các thành viên trong hội đồng làm việc với nhiệm kỳ 14 năm, trải dài qua nhiều nhiệm kỳ Tổng thống và quốc hội (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống).

3. Cơ cấu tổ chức của Fed Cơ cấu tổ chức
FED Cấu trúc của Fed rất khác biệt so với các NHTW khác. Fed bao gồm 4 cấp như sau: Hội đồng thống đốc Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) 12 Ngân hàng đóng vai trò là trụ sở của Fed phân bổ ở nhiều thành phố. Các ngân hàng thành viên
4. Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền của Fed là gì?
Chủ tịch của Fed hiện tại là Jerome Powell, ông được Tổng thống Donald Trump đề cử vào vị trí vào ngày 2 tháng 11 năm 2017, là người đứng đầu của Cục Dự trữ Liên bang. Chủ tịch Fed là đại diện của Hội đồng Thống đốc và phải chịu sự chất vấn của Nghị viện Hoa kỳ 2 lần/năm về tình trạng của nền kinh tế và chính sách tiền tệ. Ngoài việc chủ trì các cuộc họp và đặt ra chương trình nghị sự, về cơ bản chủ tịch Fed không có quyền lực gì hơn so với 6 Thống đốc còn lại. Các quyết định của Fed được đưa ra dựa trên sự đồng thuận, và theo luật thì ý kiến của chủ tịch không có thêm trọng lượng gì cả. Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang – Fed có tư cách pháp lý khác nhau.
4.1. Hội đồng Thống đốc
Đây là thành phần quan trọng nhất, chủ chốt trong bộ máy hoạt động của Fed: Bao gồm 7 thành viên được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ và Quốc hội phê chuẩn. Thành viên của hội đồng làm việc trong nhiệm kỳ 14 năm và chỉ rời chức vụ khi mãn hạn (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống) và không phục vụ quá một nhiệm kỳ. Đây là cơ quan độc lập với chính phủ liên bang. Không nhận tài trợ của chính phủ. Các thành viên hội đồng theo cơ chế dân chủ, độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Chịu trách nhiệm về việc xây dựng và cụ thể hóa chính sách tiền tệ. Giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung.
4.2. Ủy ban thị trường mở liên bang – FOMC
Đây là cơ quan thiết lập chính sách tiền tệ của nền kinh tế lớn nhất thế giới – Hoa Kỳ. Bao gồm 7 Thống đốc trong Hội đồng quản trị và 5 Chủ tịch Ngân hàng dự trữ liên bang. FOMC đóng vai trò vô cùng quan trọng và thực thi những nhiệm vụ có sức ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. FOMC thực hiện 8 cuộc họp mỗi năm để ấn định lãi suất, tăng giảm nguồn cung lưu thông tiền tệ. Những quyết định của FOMC thường ảnh hưởng đến các khoản tín dụng cũng như mức lãi suất đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
4.3. Các ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks)
12 Ngân hàng dự trữ Có 12 ngân hàng dự trữ liên bang nằm rải rác trên khắp Hoa Kỳ được sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng). Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của Chính phủ liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của Chính phủ liên bang theo một số mục đích nhất định. Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường. Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.
5. Vai trò và nhiệm vụ của Fed là gì?
Hoa kỳ đã có một thời gian dài không có Cục dự trữ liên bang, chính vì vậy tại thời điểm nền kinh tế gặp những cú sốc lớn như năm 1907, chứng khoán giảm 50% và người người đổ xô đến ngân hàng để rút tiền, chính phủ Hoa Kỳ không thể kiểm soát được tình hình. Đó chính là động lực để Hoa Kỳ lập nên ngân hàng trung ương của họ. Vậy thì vai trò của Fed là gì và họ sẽ kiểm soát những cú sốc kinh tế bằng cách nào? Chúng ta đều biết rằng những khoản tiền gửi của chúng ta vào ngân hàng không nằm yên ở đó, các ngân hàng đều có những hoạt động đầu tư để làm ra tiền và trả lãi cho người gửi. Quy định về số tiền dự trữ mà ngân hàng buộc phải có không thể giúp ngân hàng giải quyết được câu chuyện nếu cùng lúc tất cả người gửi đều muốn rút tiền. Đó là lúc Fed thể hiện vai trò của mình: người cho vay cuối cùng. Theo Hội đồng thống đốc, Fed có các nhiệm vụ sau: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.


6. Nguyên nhân khiến Fed tăng lãi suất là gì?
Khi Fed đưa ra một quyết định gì đó, nó đều có sự ảnh hưởng vô cùng lớn không chỉ đối với nền kinh tế Mỹ mà còn đối với nền kinh tế toàn cầu. Bạn hãy thử dự đoán xem, khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, chính sách của Fed đưa là gì? Và khi nền kinh tế suy giảm mạnh, chính sách của Fed đưa ra là gì? Chúng ta biết rằng, thông thường khi một nền kinh tế đang có đà tăng trưởng mạnh thì ngân hàng trung ương sẽ đưa ra các chính sách tăng lãi suất nhằm giúp kiểm soát tốt nền kinh tế. Nhưng đó không phải là tất cả nguyên nhân. Chúng ta hãy giả sử kịch bản rằng Fed đưa ra quyết định tăng lãi suất. Có những nguyên nhân được đưa ra như sau: Nền kinh tế đang tăng trưởng quá nhanh: Đây là điều dễ thấy, khi kinh tế đang có đà tăng trưởng mạnh, việc tăng lãi suất một cách từ từ không khiến cho nền kinh tế suy giảm, đồng thời còn là sự chuẩn bị cho những lần giảm lãi suất để kích cầu sau này, khi nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu đi xuống. Do mức lãi suất thực hiện tại vẫn còn thấp. Chúng ta biết rằng lãi suất thực (lãi suất thực tế) = (Lãi suất công bố) – (Lạm phát). Giả sử tỷ lệ lạm phát giữ ở mức 2% thì với lãi suất công bố là 2.25%, chúng ta có lãi suất thực chỉ là 0.25% mà thôi. FOMC có thể muốn tăng lãi suất là để đưa tỷ lệ lãi suất thực lên mức “trung tính” (neutral). Bởi theo các chuyên gia kinh tế, tỷ lệ trung tính (mức lãi suất mà không làm tăng hay giảm mức cầu tổng thể) đã giảm đáng kể trong những năm gần đây. Các nhà kinh tế cho rằng cần phải tăng lãi suất để ngăn chặn tình trạng vay tiêu dùng quá mức và các bong bóng đang nổi lên trên thị trường nhà ở cũng như thị trường các tài sản khác. Ngoài những lý do kể trên, có thể còn rất nhiều lý do khác nữa ảnh hưởng đến quyết định tăng lãi suất của Fed. Việc nắm bắt được chúng có thể giúp chúng ta nhìn ra được bức tranh toàn cảnh của thị trường.

7. Tại sao Fed có ảnh hưởng vô cùng lớn đến kinh tế toàn cầu?
Ngày nay, đồng Đô-la Mỹ đã trở thành đồng tiền chung cho vô vàn hoạt động thương mại quốc tế, được dùng để định giá cho nhiều hàng hóa trao đổi khác nhau. Fed là Ngân hàng trung ương Hoa Kỳ, những chính sách của Fed tác động trực tiếp lên nền kinh tế Hoa Kỳ và đồng đô-la Mỹ. Điều đó khiến cho mọi động thái, chính sách của Fed đều được cả thế giới đón chờ bởi tất cả những gì tác động đến nền kinh tế Hoa Kỳ, đến đồng đô-la Mỹ thì đều sẽ tác động đến nền kinh tế thế giới