Jennifer Nguyễn No Comments

Fed nhận định tích cực về nền kinh tế, cắt giảm chương trình mua tài sản ngay từ tháng 11

Fed nhận định tích cực về nền kinh tế, cắt giảm chương trình mua tài sản ngay từ tháng 11

Ngân hàng trung ương Mỹ cho biết động thái này được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế đã đạt được sự hồi phục đáng kể hơn so với những mục tiêu trước đó đề ra.

Theo CNBC, tại cuộc họp thường kỳ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) mới đây đã thông báo rằng cơ quan này sẽ sớm bắt đầu thu hẹp chương trình mua trái phiếu hàng tháng vào cuối tháng này, đồng thời tiếp tục giữ nguyên lãi suất ở mức gần 0.

Theo kế hoạch, Fed sẽ cắt giảm 15 tỷ USD “bơm” vào thị trường mỗi tháng, gồm 10 tỷ USD trái phiếu kho bạc và 5 tỷ USD chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp. Quy mô chương trình mua tài sản của Fed hiện đang ở mức 120 tỷ USD/tháng.

Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) cho biết động thái này được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế đã đạt được sự hồi phục đáng kể hơn so với những mục tiêu trước đó đề ra.

Cơ quan này cũng cho hay lộ trình cắt giảm mua tài sản là không cố định mà sẽ có sự điều chỉnh nếu cần thiết.

Động thái này của Fed được đánh giá là phù hợp với kỳ vọng của giới đầu tư, các thị trường phản ứng tích cực, chỉ số cổ phiếu tăng điểm và lợi suất trái phiếu chính phủ nhích cao hơn. Theo lịch trình hiện tại, việc giảm mua tài sản sẽ kết thúc vào khoảng tháng 7/2022.

Ngoài ra, FOMC đã đồng thuận giữ nguyên lãi suất ở mức gần 0, một động thái cũng được thị trường dự đoán trước đó. Song, cơ quan này nhấn mạnh rằng các nhà đầu tư không nên coi việc bắt đầu cắt giảm mua tài sản như một tín hiệu sắp tăng lãi suất. Mặt khác, các dự báo được công bố vào tháng 9 cho thấy kỳ vọng Fed sẽ tăng lãi suất ít nhất một lần vào năm sau.

Bên cạnh đó, Fed gần như vẫn giữ nguyên quan điểm về lạm phát khi cho rằng giá cả hàng hóa tăng lên do một số yếu tố “nhất thời”, sự mất cân bằng cung và cầu do đại dịch và sự mở cửa trở lại của nền kinh tế đã góp phần làm giá cả tăng mạnh tại một số ngành.

Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết ông kỳ vọng lạm phát sẽ tiếp tục tăng khi các vấn đề về nguồn cung tiếp tục diễn và và sau đó bắt đầu giảm trở lại vào khoảng giữa năm 2022. Ông cũng cho rằng nền kinh tế dự kiến sẽ tiếp tục cải thiện, đặc biệt là sau khi các vấn đề về chuỗi cung ứng được giải quyết.

Lạm phát đã ở mức cao nhất trong 30 năm, được thúc đẩy bởi chuỗi cung ứng bị tắc nghẽn, nhu cầu tiêu dùng cao và mức lương tăng cao xuất phát từ tình trạng thiếu lao động. Các quan chức Fed cho rằng lạm phát cuối cùng cũng sẽ quay trở lại mục tiêu 2% của họ, nhưng quá trình đó bầy giờ có thể mất nhiều thời gian hơn.

(Theo CNBC).

Jennifer Nguyễn No Comments

Áp lực lạm phát buộc Fed sớm thắt chặt chính sách tiền tệ?

Áp lực lạm phát buộc Fed sớm thắt chặt chính sách tiền tệ?

Cho tới gần đây, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn nói rằng lạm phát cao ở nước này chỉ là vấn đề tạm thời. Nhưng các dữ liệu gần đây cho thấy có vẻ Fed đã lầm, và ngân hàng trung ương này có thể phải bắt đầu rút lại chính sách tiền tệ siêu lỏng lẻo thời đại dịch Covid-19 từ tháng 11/2021…

Biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ định kỳ tháng 9 được Fed công bố ngày 13/10 cho thấy trong lần họp vừa rồi, các quan chức Uỷ ban Thị trường mở (FOMC) – bộ phận đưa ra quyết sách trong Fed – lo ngại về tình trạng lạm phát kéo dài, theo đó dự kiến sẽ bắt đầu cắt giảm chương trình mua tài sản từ tháng 11, tiến tới kết thúc chương trình này vào giữa năm sau.

So với những lần họp trước, các quan chức FOMC lần này thể hiện sự đồng thuận lớn hơn trong chủ trương cắt giảm chương trình mua 120 tỷ USD trái phiếu mỗi tháng. Điều này không gây bất ngờ lớn cho thị trường, bởi áp lực lạm phát ở Mỹ đang ngày càng lớn khi giá nhiên liệu không ngừng leo thang gần đây và tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng chưa được khắc phục trong khi nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục hồi phục từ đại dịch Covid-19.

CẮT GIẢM QE, TIẾN TỚI NÂNG LÃI SUẤT

Theo kế hoạch mà các quan chức Fed thảo luận trong cuộc họp ngày 21-22/9, Fed sẽ cắt giảm mỗi tháng 15 tỷ USD trong chương trình mua tài sản hay còn gọi là nới lỏng định lượng (QE). Nếu việc cắt giảm bắt đầu vào tháng 11 đúng như dự kiến, chương trình sẽ kết thúc vào tháng 6/2022. Kế hoạch này nhanh hơn so với những gì các nhà đầu tư kỳ vọng cách đây vài tháng, qua đó cho thấy lạm phát leo thang và kéo dài hơn dự kiến đang gây áp lực buộc Fed phải hành động gấp rút hơn.

Việc cắt giảm QE sẽ mở đường cho việc nâng lãi suất. Rõ ràng, các quan chức Fed không muốn bị đặt vào một tình thế mà họ buộc phải tăng lãi suất trong lúc vẫn còn đang mua vào trái phiếu. Việc nâng lãi suất chỉ có thể diễn ra sau khi chương trình mua tài sản đã khép lại. Nội dung biên bản cho thấy Fed muốn đóng hoàn toàn QE để có được sự linh hoạt trước khi bắt đầu nâng lãi suất trong năm tới nếu cần thiết, bởi họ lo ngại rằng lạm phát có thể tiếp tục vượt mục tiêu 2% mà Fed đề ra.

Chính sách của Fed nhằm phản ứng với tác động của đại dịch bao gồm hai trụ cột: lãi suất giảm về 0-0,25% và QE – với 80 tỷ USD mua trái phiếu kho bạc Mỹ và 40 tỷ USD mua trái phiếu đảm bảo bằng nợ địa ốc mỗi tháng – được Fed triển khai ngay sau khi Covid-19 trở thành đại dịch toàn cầu vào tháng 3 năm ngoái. Chính sách này, cộng thêm vaccine và gần 2,8 nghìn tỷ USD tiền kích cầu được Chính phủ liên bang Mỹ bơm ra từ tháng 12 năm ngoái, đã đưa nền kinh tế Mỹ phục hồi ngoạn mục chưa từng thấy trong lịch sử gần đây. Tuy nhiên, một “tác dụng phụ” của quá trình hồi phục, đó là lạm phát tăng vọt trong năm nay.

Báo cáo từ Bộ Lao động Mỹ ngày 13/10 cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 của nước này tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Các mức tăng này cao hơn so với dự báo tăng tương ứng 0,3% và 5,3% mà giới phân tích đưa ra trước đó, đồng thời là mức tăng cả năm cao nhất trong 13 năm. Không tính giá năng lượng và thực phẩm, CPI lõi tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 4% so với cùng kỳ năm ngoái, so với dự báo tăng tương ứng 0,3% và 4%.

Biên bản cuộc họp tháng 9 của Fed nói rằng các nhà kinh tế học của Fed vẫn tin rằng đà tăng của lạm phát trong năm nay chỉ là tạm thời, dự báo rằng lạm phát sẽ giảm về dưới mục tiêu 2% trong năm tới, trước khi quay trở lại ngưỡng 2% vào năm 2024.

Ban đầu, lạm phát ở Mỹ năm nay chỉ tập trung vào một số nhóm mặt hàng, bao gồm ô tô cũ và vé máy bay – những hàng hoá và dịch vụ có liên quan trực tiếp đến sự mở cửa trở lại của nền kinh tế. Tuy nhiên, báo cáo CPI mới nhất lại cho thấy sự tăng giá trên diện rộng ở hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ, đặc biệt là nhóm nhà ở và nhà hàng ăn uống.

Bởi thế, cho dù Fed giữ quan điểm “lạm phát là chuyện tạm thời”, việc Fed chủ trương cắt giảm QE từ tháng 11 cho thấy Fed không muốn rơi vào thế bị động, vì khả năng lạm phát giữ ở mức cao trong thời gian dài là không thể loại trừ.

MỐI LO VỀ KỲ VỌNG LẠM PHÁT

Trước đây, một số nhà phân tích cũng đã dự báo Fed sẽ đưa ra tuyên bố cắt giảm chương trình này trong cuộc họp tháng 11, nhưng cho rằng Fed đợi sang tháng 12 hoặc đầu năm sau mới chính thức bắt đầu việc cắt giảm. Dù vậy, kế hoạch mà Fed đang bàn thảo là hành động luôn.

“Nếu họ tuyên bố trong tháng 11, thì tôi không thấy có lý do gì để họ phải đợi. Họ sẽ tiến hành luôn”, chiến lược gia Kathy Jones của Charles Schwab nói với hãng tin CNBC. Bà Jones cũng nhấn mạnh nội dung của biên bản cuộc họp tháng 9 cho thấy một số thành viên của Fed muốn đẩy nhanh việc cắt giảm QE. “Điều đó phản ánh một sự mạnh dạn. Hẳn đã có một số người thẳng thắn đưa ra quan điểm cho rằng họ nhận thấy Fed cần phải hành động nhanh hơn”, vị chiến lược gia nói.

Phát biểu hôm 12/10, Chủ tịch Fed chi nhánh Atlanta Raphael Bostic nói rằng đã đến lúc nên dừng gọi mức lạm phát cao hiện nay là tạm thời. “Ngày càng rõ ràng là sự gián đoạn đầy căng thẳng và trên diện rộng của chuỗi cung ứng sẽ không sớm chấm dứt. Bởi thế, những lực lượng gây lạm phát cao không phải là tạm thời”, ông nói.

Trong một cuộc thảo luận vào hôm 29/9, Chủ tịch Fed Jerome Powell cũng thừa nhận rằng Fed đang đối mặt với một tình thế mà ngân hàng trung ương này đã rất lâu không gặp phải, trong đó có sự mâu thuẫn giữa hai mục tiêu của Fed là lạm phát thấp và ổn định cùng với tỷ lệ việc làm cao. “Vượt qua trở ngại này trong hai năm tới sẽ là một việc đầy thách thức, bởi chúng ta có giả thiết là lạm phát chỉ là vấn đề tạm thời. Chúng tôi nghĩ giả thiết đó là đúng, nhưng chúng tôi lo ngại rằng các kỳ vọng lạm phát sẽ duy trì ở mức cao, như cho tới thời điểm này”, ông nói.

Phương pháp tiếp cận lập trường chính sách tiền tệ của ông Powell là quản lý những rủi ro về tăng trưởng yếu hơn kỳ vọng hoặc tăng trưởng mạnh hơn kỳ vọng. Điều đó có nghĩa là Fed có thể dịch chuyển chính sách không phải bởi nền kinh tế yếu đi hay mạnh lên, mà bởi có sự thay đổi trong những rủi ro liên quan đến triển vọng tăng trưởng.

“Những con số lạm phát đang xấu, và tin tức về chuỗi cung ứng cũng tệ. Lạm phát có vẻ không phải là tạm thời và những vấn đề về chuỗi cung ứng sẽ kéo dài một thời gian”, ông William English, một cựu chuyên gia kinh tế cấp cao của Fed, hiện là giáo sư Trường quản lý Yale, nhận định trên tờ Wall Street Journal.

“Câu hỏi chính đặt ra lúc này là liệu thực trạng đó có khiến công chúng thay đổi quan niệm rằng lạm phát sẽ sớm giảm về ngưỡng 2%? Nếu so với cách đây vài tháng, rủi ro lạm phát giờ đây lớn hơn nhiều”, ông English nói.

Phát biểu hôm 12/10, Phó chủ tịch Fed Richard Clarida nói rằng Fed sẽ phải tăng lãi suất nếu có những dấu hiệu cho thấy người tiêu dùng và doanh nghiệp bắt đầu kỳ vọng rằng những sức ép lạm phát gần đây sẽ kéo dài. “Chính sách tiền tệ sẽ phản ứng với điều đó, dù chưa phải là việc cần thiết vào lúc này”, ông Clarida nói.

(Theo Wall Street Journal)

Jennifer Nguyễn No Comments

Tỷ giá USD hôm nay 23/9: Bật tăng mạnh mẽ sau khi biên bản cuộc họp của Fed được công bố

Sáng 23/9 theo giờ Việt Nam, trên thị trường quốc tế, USD Index đạt 93.502 điểm, tăng 0.025 điểm, tương đương tăng 0.03%.

USD index tăng mạnh khi cuộc họp thường kỳ kéo dài hai ngày của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) của Fed kết thúc. Theo đó, cơ quan này thông báo giữ nguyên mục tiêu lãi suất trong khoảng 0-0,25%. 

Vào tháng 3/2020, khi dịch Covid-19 bắt đầu lan mạnh ở Mỹ, Fed đã mạnh tay hạ lãi suất từ 1,75% còn 1,25% rồi xuống tiếp 0,25% chỉ trong vòng hai tuần. Khoảng lãi suất gần 0 được Fed duy trì liên tục trong 18 tháng qua.

Trong cuộc họp lần này, một nửa số thành viên của FOMC (9/18 người) ủng hộ nâng lãi suất vào năm 2022, tăng so với 7 người ủng hộ hồi tháng 6 vừa qua.

Ngoài lãi suất thấp, Fed còn kích thích nền kinh tế trong đại dịch bằng chương trình mua trái phiếu, bơm ra thị trường khoảng 120 tỷ USD mỗi tháng. Hồi tháng 8 năm nay, Chủ tịch Jerome Powell cho rằng Fed có thể sớm cắt giảm chương trình bơm tiền này.

Theo kết quả cuộc họp, các thành viên của ủy ban FOMC dự định sẽ sớm giảm bớt quy mô bơm tiền hàng tháng (tapering), tuy nhiên thời gian biểu cụ thể không được đưa ra.

(Theo Reuters).

Jennifer Nguyễn No Comments

Lý do nào khiến Fed tính chuyện bắt đầu rút lại kích thích từ cuối năm nay?

Lý do nào khiến Fed tính chuyện bắt đầu rút lại kích thích từ cuối năm nay?

Hầu hết các thành viên FOMC “đánh giá sẽ là hợp lý nếu bắt đầu giảm tốc độ mua tài sản từ năm nay”.

Trong cuộc họp tháng trước, hầu hết các quan chức Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đều đồng ý rằng họ có thể bắt đầu giảm tốc độ mua trái phiếu từ cuối năm nay. Họ đánh giá kinh tế Mỹ đã đủ tiến bộ về mục tiêu lạm phát, đồng thời thị trường lao động cũng đã cải thiện.

“Nhiều thành viên tham dự nhận định đã có đủ các điều kiện kinh tế và tài chính để có thể giảm quy mô mua trái phiếu trong những tháng tới”, biên bản cuộc họp của Ủy ban thị trường mở (FOMC) ngày 27-28/7 cho biết. “Tuy nhiên, một số chỉ tiêu khác lại cho thấy sẽ là hợp lý nếu bắt đầu thu hẹp từ đầu năm sau”.

Cũng theo biên bản này, hầu hết các thành viên FOMC “đánh giá sẽ là hợp lý nếu bắt đầu giảm tốc độ mua tài sản từ năm nay”.

Cuộc họp tiếp theo của FOMC sẽ diễn ra vào ngày 21-22/9. Cho đến nay họ vẫn chưa đồng ý về mốc thời gian, tốc độ cũng như cấu trúc của đợt “taper” sắp tới. Các quan chức vẫn bất đồng quan điểm khi đánh giá liệu tình trạng lạm phát tăng nhanh có tiếp tục kéo dài hay không.

Mặc dù đà tăng gần đây của chỉ số giá tiêu dùng thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách và thôi thúc họ nhất trí về việc thu hẹp chương trình mua tài sản, một số quan chức Fed vẫn lo ngại lạm phát có thể đảo chiều và quay trở lại xu hướng trước dịch là giữ mãi ở mức dưới 2%.

Trong bối cảnh kinh tế Mỹ hồi phục mạnh mẽ, sự mất cân bằng trên cả cung và cầu khiến giá tiêu dùng tăng mạnh. Chỉ số lạm phát trong 12 tháng kết thúc vào tháng 6 vừa qua (do Fed tính toán) lên tới 4%, trong khi mục tiêu Fed đề ra là 2%.

Thị trường lao động cũng được đánh giá là có tiến triển và đang hướng đến mục tiêu mà Fed đã đề ra, mặc dù vẫn có những lo ngại về những cản trở trong ngắn và trung hạn liên quan đến đại dịch Covid-19.

Số việc làm mới đã tăng mạnh trong thời gian gần đây, ở mức trung bình 617.000 việc làm mỗi tháng. Tỷ lệ thất nghiệp của tháng 7 giữ ở mức 5,4%. Tuy nhiên các thước đo có phạm vi rộng hơn vẫn cho thấy sự trì trệ. Ví dụ, tỷ lệ tham gia thị trường lao động của nhóm 25-54 tuổi là 77,8% trong tháng trước, giảm so với con số 80,5% của thời điểm đầu năm 2020. Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm da màu vẫn ở mức cao – 8,2%.

“Một số thành viên nhấn mạnh thị trường lao động vẫn chưa quay trở lại mức trước dịch và rằng 1 thị trường lao động khỏe mạnh được hậu thuẫn bởi chính sách tiền tệ linh hoạt sẽ giúp chúng ta tiến nhanh hơn đến các mục tiêu đã đề ra”, biên bản có đoạn. “Một số bình luận rằng hiện xu hướng tăng giá chỉ tập trung ở một số nhóm nhỏ và sẽ không làm thay đổi xu hướng lạm phát”.

Tháng 3/2020, Fed hạ lãi suất cho vay xuống 0 và thông báo mỗi tháng sẽ mua 200 tỷ USD chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) cùng với 500 tỷ USD trái phiếu kho bạc để giúp thị trường hoạt động trơn tru. Đến tháng 12/2020, Fed điều chỉnh chỉ dẫn, thông báo sẽ giảm xuống mua 80 tỷ USD trái phiếu và 40 tỷ USD MBS mỗi tháng “cho đến khi đạt được những tiến bộ bền vững hướng tới các mục tiêu về toàn dụng lao động và ổn định giá cả”.

Chương trình mua tài sản của Fed giúp lãi suất dài hạn giảm xuống nhưng cũng khiến giá nhà đất và các tài sản tài chính tăng vọt, làm dấy lên những lo ngại về bong bóng tài chính.

(Theo Bloomberg).

Jennifer Nguyễn No Comments

Fed báo hiệu không nâng lãi suất cho tới năm 2023 bất chấp đà tăng của lợi suất trái phiếu

Sáng sớm ngày 18/03 (giờ Việt Nam), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nâng mạnh kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế, nhưng báo hiệu sẽ không nâng lãi suất cho đến năm 2023, dù rằng triển vọng kinh tế đã tươi sáng hơn và kỳ vọng lạm phát cao hơn.

Đúng như dự báo, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã nhất trí giữ nguyên lãi suất gần 0%, đồng thời tiếp tục mua ít nhất 120 tỷ USD trái phiếu mỗi tháng.

Những thay đổi quan trọng nằm ở dự báo của các quan chức Fed về nền kinh tế Mỹ trong thời gian tới và tác động của chúng tới chính sách tiền tệ.

“Sau đà hồi phục vừa phải của nền kinh tế Mỹ, các chỉ báo về hoạt động kinh tế và việc làm đã khởi sắc trong thời gian gần đây, mặc dù các lĩnh vực gặp nhiều bất lợi nhất trong đại dịch vẫn còn khá yếu ớt. Lạm phát tiếp tục ở dưới mục tiêu 2%”, FOMC cho biết trong tuyên bố sau cuộc họp.

Theo dự báo kinh tế của các quan chức Fed, GDP Mỹ sẽ tăng trưởng 6.5% trong năm 2021, trước khi chậm lại trong vài năm tới. Con số ước tính này đã cải thiện so với dự báo tháng 12/2020 là 4.2%. Dự báo cho tăng trưởng GDP năm 2022 và 2023 lần lượt là 3.3% và 2.2% và sau đó sẽ ổn định ở phạm vi 2.3% trong dài hạn.

Cùng với việc nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP, các quan chức Fed còn dự báo tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4.5%, từ mức 6.2% hiện tại và thấp hơn dự báo 5% hồi tháng 12/2020. Dự báo của năm 2022 và 2023 lần lượt là 4.2% và 3.7%, trước khi ổn định ở mức dài hạn 4%.

Lạm phát lõi được dự báo ở mức 2.2% trong năm 2021

Fed dự báo đà tăng của lạm phát trong năm nay chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Các quan chức dự báo lạm phát sẽ giảm về 2% trong năm 2022, sau khi tăng lên 2.4%. Loại trừ giá năng lượng và thực phẩm, lạm phát lõi được dự báo ở mức 2.2% trong năm nay và giảm xuống 2% trong năm 2022.

Bất chấp cái nhìn tươi sáng hơn về kinh tế, Fed vẫn dự báo giữ nguyên lãi suất chuẩn cho tới năm 2023. Tuy vậy, ngày càng nhiều thành viên Fed dự báo sẽ có đợt nâng lãi suất đầu tiên trong năm 2023.

Trong số 18 quan chức Fed, có tới 7 thành viên cho rằng Fed sẽ nâng lãi suất trước khi kết thúc năm 2023, trong khi tại cuộc họp tháng 12/2020, chỉ có 5 thành viên lựa chọn phương án này.

Thị trường đang dõi theo chặt chẽ các dự báo này với mục đích dự đoán về phản ứng của Fed trước sự cải thiện gần đây của nền kinh tế và kỳ vọng lạm phát cao hơn trong thời gian tới.

Tuy vậy, tuyên bố của Fed tiếp tục báo hiệu chính sách tiền tệ vẫn được nới lỏng cho tới khi “có bước tiến đáng kể” hướng tới mục tiêu kép toàn dụng nhân công và ổn định giá cả.

Trong năm 2020, Fed đã điều chỉnh các mục tiêu này để truyền tải thông điệp rằng họ sẽ giữ chính sách ở chế độ nới lỏng cho tới khi thị trường lao động không chỉ tăng trưởng mạnh mẽ mà còn phải dàn đều lợi ích cho người dân Mỹ. Đi kèm với mục tiêu đó là sự sẵn lòng để lạm phát tăng vượt mục tiêu 2% của Fed trong một khoảng thời gian chưa xác định trước.

Cuộc họp chính sách của Fed còn diễn ra trong bối cảnh kinh tế Mỹ tiếp tục hồi phục. Số lượng việc làm mới tăng mạnh trong tháng trước và Tổng thống Mỹ Joe Biden ký gói cứu trợ 1.9 ngàn tỷ USD từ ngày 11/03. Việc tiêm chủng sẽ tiếp tục, cho phép các bang bắt đầu nới lỏng các biện pháp phong tỏa và nhờ đó giải phóng sự dồn nén của chi tiêu tiêu dùng.

Thị trường gần đây biến động ngày càng thất thường vì lo ngại áp lực lạm phát có thể gây ra nguy cơ lớn hơn những gì Fed nghĩ.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ đã tăng lên mức từng thấy trước khi đại dịch Covid-19 ập đến, giữa lúc nhà đầu tư lo ngại lạm phát làm giảm giá trị của các khoản đầu tư trái phiếu. Lạm phát tăng tác động tiêu cực tới trái phiếu vì điều này có nghĩa các khoản thanh toán trái phiếu trong tương lai sẽ giảm giá trị sau khi trừ lạm phát. Điều này đã dẫn tới làn sóng bán tháo trái phiếu và đẩy lợi suất trái phiếu tăng mạnh.

Dù vậy, Fed vẫn tỏ ra thoải mái với đà leo dốc của lợi suất trái phiếu miễn là đà tăng này xuất phát từ sự hồi phục kinh tế. Fed xem lạm phát 2% là mức lành mạnh cho nền kinh tế, đồng thời mang lại cho NHTW khoảng trống về chính sách. Nếu lạm phát vượt khỏi tầm kiểm soát, các quan chức Fed vẫn tin họ có công cụ để kiểm soát yếu tố này.

Trong vài tuần gần đây, nhiều chuyên gia cho rằng Fed có thể điều chỉnh chương trình mua trái phiếu và hướng theo phương án mua trái phiếu kỳ hạn dài hơn để kìm hãm lợi suất. Tuy nhiên, quyết định hôm nay của Fed cho thấy họ sẽ không làm thế.

Mai Anh (Theo CNBC)

Jennifer Nguyễn No Comments

Tỷ giá USD hôm nay 16/9: Phục hồi sau khi rơi xuống mức đáy hai tuần

USD Index, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác, tăng 0,06% lên 93,115 điểm vào lúc 6h45 (giờ Việt Nam).

Tỷ giá euro so với USD giảm 0,01% xuống 1,1843. Tỷ giá đồng bảng Anh so với USD giảm 0,04% xuống 1,2881.

Tỷ giá USD so với yen Nhật giảm 0,04% xuống 105,39.

Tỷ giá USD đã có sự phục hồi khi rời khỏi thấp trong phiên giao dịch thứ Ba (15/9), nhưng các nhà giao dịch vẫn tỏ ra cảnh giác với đồng bạc xanh vì Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ không thay đổi cam kết giữ lãi suất thấp trong thời gian lâu hơn để đảm bảo sự phục hồi kinh tế của quốc gia.

Trước đó, USD Index đã rơi giảm xuống mức đáy hai tuần là 92,79.

Bắt đầu vào thứ Ba (15/9), Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đã tổ chức một cuộc họp kéo dài hai ngày, dự kiến sẽ đưa ra quyết định giữ lãi suất trong phạm vi 0 đến 0,25%.

Theo Morgan Stanley, Fed nhiều khả năng sẽ không có nhiều thay đổi đáng kể trong quan điểm về lạm phát và chính sách lãi suất đã công bố tại hội nghi Jackson Hole.

Bên cạnh đó, tuyên bố chính sẽ được công bố với một bản cập nhật về các dự báo kinh tế của ngân hàng trung ương. Các dự báo này nhiều khả năng sẽ củng cố quan điểm của Fed rằng nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ mất nhiều thời gian để có thể phục hồi hoàn toàn.

Morgan Stanley cũng nhấn mạnh các dự báo trung hạn chỉ ra các thành viên FOMC đều nhận định nền kinh tế Mỹ chưa thể tăng trưởng nhanh chóng trong môi trường lãi suất và lạm phát mục tiêu hiện tại.

Xu hướng phục hồi trì trệ của đồng bạc xanh trong tháng 9 đã không thể thuyết phục được các nhà giao dịch xóa bỏ tâm lí bi quan về tỷ giá USD.

Một báo cáo của ING cho thấy sự thay đổi chính sách mới nhất của Fed đã thúc đẩy kì vọng giảm lãi suất trong tương lai gần và đây là một lí do thúc đẩy động thái bán tháo đồng USD trên thị trường trong thời gian ngắn.

IB Viet Nam No Comments

Fed là gì? Vai trò và nhiệm vụ của Fed như thế nào? Những chính sách của Fed tác động đến nền kinh tế ra sao?

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu Fed là gì? Vai trò và nhiệm vụ của Fed như thế nào? Những chính sách của Fed tác động đến nền kinh tế ra sao?
1. Fed là gì?
1.1. Tổng quan về Fed
Vào năm 1791, Người đại diện của gia tộc Rothschild, ông Alexander Hamilton đã trình lên Quốc hội đề xuất thành lập First Bank of the United States (BUS1) nhằm mục đích giải quyết những vấn đề về tiền tệ. BUS 1 được tổng thống Washington ký thông qua và đi vào hoạt động trong 20 năm (1791 – 1812). Vào năm 1812, khi cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Anh nổ ra, Hoa Kỳ đã gặp rất nhiều khó khăn và các ngân hàng Hoa Kỳ gần như mất khả năng thanh toán do tình trạng nợ và chi phí hoạt động quân sự. Trước tình cảnh đó, Hoa Kỳ một lần nữa thành lập Ngân hàng trung ương – Second Bank of the United States (BUS2) sau khi tổng thống Madison đặt bút ký thông qua với thời gian hiệu lực là 20 năm (1816 – 1836). Sau nhiều cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt là cuộc khủng hoảng của hệ thống ngân hàng năm 1907, Quốc hội Hoa Kỳ đã nhận thấy những yếu kém của hệ thống tài chính và đặt ra mục tiêu cải cách hệ thống ngân hàng và thiết lập một cơ chế giám sát ngân hàng có hiệu quả hơn. Sau nhiều cuộc họp thảo luận vô cùng kỹ lưỡng, vào ngày 23/12/1913, Tổng thống Wilson đã ký quyết định thông qua “Đạo luật Dự trữ liên bang”, chính thức thành lập Cục Dự trữ Liên bang (Federal Reserve System – FED) hay còn gọi là Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ.

1.2. Chức năng của Fed là gì?
Hiện nay, Fed được xem là tổ chức tài chính quyền lực nhất thế giới. Sự xuất hiện của Fed mang đến cho Hoa Kỳ một hệ thống tiền tệ và tài chính an toàn, linh hoạt và ổn định, giúp Hoa Kỳ có những chính sách đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính mà trong quá khứ họ đã từng phải gánh chịu, ví dụ như đợt khủng hoảng nghiêm trọng năm 1907. Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập 3 mục tiêu chính cho chính sách tiền tệ trong Đạo luật dự trữ Liên bang, bao gồm: Tăng tối đa việc làm, giữ giá cả ổn định và điều chỉnh lãi suất. Trong những năm qua, nhiệm vụ của Fed ngày càng được mở rộng hơn. Đến thời điểm năm 2009, Fed đồng thời giám sát và điều tiết ngân hàng, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và cung cấp các dịch vụ tài chính cho Chính phủ Hoa Kỳ, các tổ chức trong và ngoài nước.

1.3. Bản chất của Fed là gì?
Bản chất của Fed là một Ngân hàng trung ương độc lập có toàn quyền đưa ra các chính sách tiền tệ và thi hành các chính sách đó mà không phải chịu bất kỳ sự quản lý của chính phủ Hoa Kỳ. Tính độc lập của Fed đến đâu và được thể hiện như thế nào?

2. Tính độc lập của Fed
Trên thế giới tồn tại ba mô hình Ngân hàng trung ương phổ biến: NHTW độc lập với chính phủ NHTW là một tổ chức thuộc chính phủ NHTW là một cơ quan thuộc bộ tài chính. Tính độc lập của NHTW nhằm giảm sự can thiệp sâu của chính trị đến quá trình quản lý và thực thi các chính sách tiền tệ nhằm đạt hiệu quả tốt nhất. Mức độ độc lập của NHTW được thể hiện thông qua quyền hạn đối với Chính sách tiền tệ, quyền quyết định và thực thi các chính sách tiền tệ đó. Hầu hết các NHTW đều có những quyền hạn đối với Chính sách tiền tệ, quyền giám sát đối với các tổ chức tín dụng, tuy nhiên, mức độ độc lập là không giống nhau. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tính độc lập của các NHTW được chia thành 4 cấp độ:
Cấp độ 1: Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động.
Cấp độ 2: Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động.
Cấp độ 3: Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành.
Cấp độ 4: Độc lập tự chủ hạn chế. Fed là Ngân hàng trung ương có cấp độ độc lập cao nhất – cấp độ 1: Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động.
2.1. Độc lập về chính sách
Fed có thể đưa ra các quyết định chính sách tiền tệ mà không cần phải phê chuẩn bởi Tổng thống hoặc bất cứ ai khác trong các ngành hành pháp hay lập pháp của chính phủ. Fed có toàn quyền quyết định việc sử dụng công cụ như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở để thực hiện mục tiêu hàng đầu của Fed trong chính sách tiền tệ là theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả, tạo công ăn việc làm qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển lành mạnh và bền vững.
2.2. Độc lập về tài chính
Fed không nhận bất kỳ nguồn kinh phí nào do Quốc hội Hoa Kỳ phân bổ. Fed có ngân sách hoạt động độc lập và có doanh thu từ các tài sản nắm giữ. Chính phủ Hoa Kỳ nhận được tất cả các lợi nhuận hàng năm của bộ máy Fed sau khi chia cổ tức theo luật định là 6%. Trên thực tế, Fed là một bộ máy kiếm tiền khủng khiếp và chính phủ Hoa Kỳ được hưởng gần như toàn bộ sự hiệu quả đó. Trong năm 2010, Fed đã lãi đến 82 tỷ $ và chuyển 79 tỷ $ vào kho bạc Hoa Kỳ.
2.3. Độc lập về tổ chức nhân sự
Các thành viên trong hội đồng làm việc với nhiệm kỳ 14 năm, trải dài qua nhiều nhiệm kỳ Tổng thống và quốc hội (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống).

3. Cơ cấu tổ chức của Fed Cơ cấu tổ chức
FED Cấu trúc của Fed rất khác biệt so với các NHTW khác. Fed bao gồm 4 cấp như sau: Hội đồng thống đốc Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) 12 Ngân hàng đóng vai trò là trụ sở của Fed phân bổ ở nhiều thành phố. Các ngân hàng thành viên
4. Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền của Fed là gì?
Chủ tịch của Fed hiện tại là Jerome Powell, ông được Tổng thống Donald Trump đề cử vào vị trí vào ngày 2 tháng 11 năm 2017, là người đứng đầu của Cục Dự trữ Liên bang. Chủ tịch Fed là đại diện của Hội đồng Thống đốc và phải chịu sự chất vấn của Nghị viện Hoa kỳ 2 lần/năm về tình trạng của nền kinh tế và chính sách tiền tệ. Ngoài việc chủ trì các cuộc họp và đặt ra chương trình nghị sự, về cơ bản chủ tịch Fed không có quyền lực gì hơn so với 6 Thống đốc còn lại. Các quyết định của Fed được đưa ra dựa trên sự đồng thuận, và theo luật thì ý kiến của chủ tịch không có thêm trọng lượng gì cả. Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang – Fed có tư cách pháp lý khác nhau.
4.1. Hội đồng Thống đốc
Đây là thành phần quan trọng nhất, chủ chốt trong bộ máy hoạt động của Fed: Bao gồm 7 thành viên được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ và Quốc hội phê chuẩn. Thành viên của hội đồng làm việc trong nhiệm kỳ 14 năm và chỉ rời chức vụ khi mãn hạn (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống) và không phục vụ quá một nhiệm kỳ. Đây là cơ quan độc lập với chính phủ liên bang. Không nhận tài trợ của chính phủ. Các thành viên hội đồng theo cơ chế dân chủ, độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Chịu trách nhiệm về việc xây dựng và cụ thể hóa chính sách tiền tệ. Giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung.
4.2. Ủy ban thị trường mở liên bang – FOMC
Đây là cơ quan thiết lập chính sách tiền tệ của nền kinh tế lớn nhất thế giới – Hoa Kỳ. Bao gồm 7 Thống đốc trong Hội đồng quản trị và 5 Chủ tịch Ngân hàng dự trữ liên bang. FOMC đóng vai trò vô cùng quan trọng và thực thi những nhiệm vụ có sức ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. FOMC thực hiện 8 cuộc họp mỗi năm để ấn định lãi suất, tăng giảm nguồn cung lưu thông tiền tệ. Những quyết định của FOMC thường ảnh hưởng đến các khoản tín dụng cũng như mức lãi suất đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
4.3. Các ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks)
12 Ngân hàng dự trữ Có 12 ngân hàng dự trữ liên bang nằm rải rác trên khắp Hoa Kỳ được sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng). Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của Chính phủ liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của Chính phủ liên bang theo một số mục đích nhất định. Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường. Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.
5. Vai trò và nhiệm vụ của Fed là gì?
Hoa kỳ đã có một thời gian dài không có Cục dự trữ liên bang, chính vì vậy tại thời điểm nền kinh tế gặp những cú sốc lớn như năm 1907, chứng khoán giảm 50% và người người đổ xô đến ngân hàng để rút tiền, chính phủ Hoa Kỳ không thể kiểm soát được tình hình. Đó chính là động lực để Hoa Kỳ lập nên ngân hàng trung ương của họ. Vậy thì vai trò của Fed là gì và họ sẽ kiểm soát những cú sốc kinh tế bằng cách nào? Chúng ta đều biết rằng những khoản tiền gửi của chúng ta vào ngân hàng không nằm yên ở đó, các ngân hàng đều có những hoạt động đầu tư để làm ra tiền và trả lãi cho người gửi. Quy định về số tiền dự trữ mà ngân hàng buộc phải có không thể giúp ngân hàng giải quyết được câu chuyện nếu cùng lúc tất cả người gửi đều muốn rút tiền. Đó là lúc Fed thể hiện vai trò của mình: người cho vay cuối cùng. Theo Hội đồng thống đốc, Fed có các nhiệm vụ sau: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.


6. Nguyên nhân khiến Fed tăng lãi suất là gì?
Khi Fed đưa ra một quyết định gì đó, nó đều có sự ảnh hưởng vô cùng lớn không chỉ đối với nền kinh tế Mỹ mà còn đối với nền kinh tế toàn cầu. Bạn hãy thử dự đoán xem, khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, chính sách của Fed đưa là gì? Và khi nền kinh tế suy giảm mạnh, chính sách của Fed đưa ra là gì? Chúng ta biết rằng, thông thường khi một nền kinh tế đang có đà tăng trưởng mạnh thì ngân hàng trung ương sẽ đưa ra các chính sách tăng lãi suất nhằm giúp kiểm soát tốt nền kinh tế. Nhưng đó không phải là tất cả nguyên nhân. Chúng ta hãy giả sử kịch bản rằng Fed đưa ra quyết định tăng lãi suất. Có những nguyên nhân được đưa ra như sau: Nền kinh tế đang tăng trưởng quá nhanh: Đây là điều dễ thấy, khi kinh tế đang có đà tăng trưởng mạnh, việc tăng lãi suất một cách từ từ không khiến cho nền kinh tế suy giảm, đồng thời còn là sự chuẩn bị cho những lần giảm lãi suất để kích cầu sau này, khi nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu đi xuống. Do mức lãi suất thực hiện tại vẫn còn thấp. Chúng ta biết rằng lãi suất thực (lãi suất thực tế) = (Lãi suất công bố) – (Lạm phát). Giả sử tỷ lệ lạm phát giữ ở mức 2% thì với lãi suất công bố là 2.25%, chúng ta có lãi suất thực chỉ là 0.25% mà thôi. FOMC có thể muốn tăng lãi suất là để đưa tỷ lệ lãi suất thực lên mức “trung tính” (neutral). Bởi theo các chuyên gia kinh tế, tỷ lệ trung tính (mức lãi suất mà không làm tăng hay giảm mức cầu tổng thể) đã giảm đáng kể trong những năm gần đây. Các nhà kinh tế cho rằng cần phải tăng lãi suất để ngăn chặn tình trạng vay tiêu dùng quá mức và các bong bóng đang nổi lên trên thị trường nhà ở cũng như thị trường các tài sản khác. Ngoài những lý do kể trên, có thể còn rất nhiều lý do khác nữa ảnh hưởng đến quyết định tăng lãi suất của Fed. Việc nắm bắt được chúng có thể giúp chúng ta nhìn ra được bức tranh toàn cảnh của thị trường.

7. Tại sao Fed có ảnh hưởng vô cùng lớn đến kinh tế toàn cầu?
Ngày nay, đồng Đô-la Mỹ đã trở thành đồng tiền chung cho vô vàn hoạt động thương mại quốc tế, được dùng để định giá cho nhiều hàng hóa trao đổi khác nhau. Fed là Ngân hàng trung ương Hoa Kỳ, những chính sách của Fed tác động trực tiếp lên nền kinh tế Hoa Kỳ và đồng đô-la Mỹ. Điều đó khiến cho mọi động thái, chính sách của Fed đều được cả thế giới đón chờ bởi tất cả những gì tác động đến nền kinh tế Hoa Kỳ, đến đồng đô-la Mỹ thì đều sẽ tác động đến nền kinh tế thế giới